Thứ bảy, ngày 04/07/2020

Bước đầu thăm dò tình trạng đông máu ở bệnh nhân đái tháo đường


18.06.2012   170 lượt xem

Vũ Bích Nga, Cung Thị Tý, Lê Huy Liệu

1.Đặt vấn đề

            Đái tháo đường là một bệnh nội tiết thường gặp, theo Lê Huy Liệu và cs, bệnh đái tháo đường là một trong hai bệnh nội tiết thường gặp nhất nó đứng hàng thứ hai sau bệnh BASEDOW. Trong những năm gần đây, tỷ lệ bệnh ngày càng có xu hướng tăng lên. Mặc dù đã có những tiến bộ lớn trong điều trị, nhưng các biến chứng về mạch máu, đặc biệt là vi mạch vẫn là nguyên nhân chính làm rút ngắn đời sống của bệnh nhân đái tháo đường tới 35% (Erust1986)

            Sinh lý biến chứng mạch máu ở bệnh nhân đái tháo đường chưa rõ hoàn toàn. Nhiều nghiên cứu đã cho thấy có nhiều nguyên nhân góp phần vào biến chứng vi mạch ở bệnh nhân đaí tháo đường như: rối loạn các thành phần lipit máu, dày lớp đáy mạch máu, phá huỷ tế bào nội mạc, rối loạn hệ thống đông máu... Để góp phần tìm hiểu một trong những nguyên nhân có thể gây nên biến chứng mạch máu và tắc mạch, chúng tôi tiến hành đề tài này nhằm mục đích: Bước đầu thăm dò tình trạng đông máu ở bệnh nhân đái tháo đường.

 2.Đối tượng và phương pháp nghiên cứu

2.1.Đối tượng:

            - Các bệnh nhân đến khám và điều trị tại khoa nội tiết bệnh viện Bạch Mai, được chẩn đoán là đái tháo đường.

            - Các bệnh nhân đái tháo đường có các bệnh khác kèm theo ảnh hưởng tới chức năng tiểu cầu và quá trình đông máu như : bệnh về gan, ung thư các loại, bệnh về máu, bệnh nhân dùng thuốc tránh thai, Heparin, kháng sinh Vitamin K, chúng tôi không xếp vào diện nghiên cứu.

2.2.Phương pháp:

            Nghiên cứu trên 2 nhóm:

            - Nhóm chứng: Gồm những người khoẻ mạnh được chọn theo tiêu chuẩn huyết học và truyền máu trung ương.

            - Nhóm bệnh: gồm các bệnh nhân được chẩn đoán đái tháo đường theo tiêu chuẩn của OMS là: Đường tĩnh mạch lúc đói, làm hai lần 1,4g/l hoặc đường máu 2 giờ sau khi làm nghiệm pháp tăng đường máu 2g/l.

            + Phân loại đái tháo đường type I và II trong điều kiện Việt nam, chúng tôi dựa vào lâm sàng và cận lâm sàng. Những bệnh nhân chưa rõ, có thể phân biệt qua test điều trị thử bằng thuốc viên Sufamid hạ đường huyết với liều tối đa. Nếu còn nghi ngờ giữa hai type, chúng tôi loại ra khỏi nghiên cứu.

            + Tất cả các bệnh nhân đều được hỏi bệnh và khám lâm sàng tỉ mỉ, làm xét nghiệm cần thiết để loại trừ các bệnh ảnh hưởng đến kết quả nghiên cứu.

            + Nhóm bệnh nhân và nhóm chứng đều có một mẫu bệnh án chung ghi lại các dữ liệu cần thiết.

+ Các xét nghiệm về đông máu được làm

            . Thời gian chảy máu.

            . Thời gian máu đông.

            . Thời gian Prothrombin.

            . Thời gian Howelle

            . Nghiệm pháp rượu

            . Nghiệm pháp Volkaula

            . Diễn đò đàn hồi cục máu (TEG) : trong đó : r = thời gian sinh thromboplastin, k = thời gian sinh thrombin, r + k = thời gian đông máu toàn bộ, am = đánh giá vai trò của fibrinogen và tiểu cầu.

2.3.Xử lý số liệu thống kê:

            Các số liệu thu được đều xử lý theo toán thống kê y học trong chương trình Epi info. Dùng thuật toán T- Test, thuật toán x2 và hệ số tương quan r.

 3.Kết quả và bàn luận

            Từ tháng hai năm 1996 đến tháng tư năm 1996 chúng tôi tiến hành nghiên cứu trên 26 bệnh nhân đái tháo đường và 20 người khoẻ mạnh làm chứng. Sau đây là kết quả thu được:

            - Nhóm bệnh: 26 bệnh nhân: Nam 10 bệnh nhân và nữ 16 bệnh nhân    (tuổi từ 15 đến 61).

            - Nhóm chứng: 20 bệnh nhân: Nam 8 bệnh nhân và nữ 12 bệnh nhân    (tuổi từ 17 đến 59 ).

3.1.So sánh thời gian đông máu toàn bộ giữa nhóm bệnh và nhóm chứng

 

n

r + k

X

s

Bệnh nhân

Nhóm chứng

26

20

17,88

23,84

3,67

3,82

            n: kích cỡ mẫu

            r + k: thời gian đông máu toàn bộ.

            (r + k càng thấp thì càng có nguy cơ đông máu)

            X: trung bình cộng của mẫu

            s: độ lệch chuẩn.

            Sự khác nhau có ý nghĩa thống kê với p < 0,05. Như vậy bệnh nhân đái tháo đường trong nghiên cứu của chúng tôi có nguy cơ tăng đông máu hơn nhóm chứng. Kết quả của chúng tôi phù hợp với kết quả nghiên cứu của các tác giả Nusuwan. A và Shen.Z. Điều này rất đáng lưu ý vì tiên lượng sống của bệnh nhân đái tháo đường phụ thuộc nhiều vào các biến chứng mạch máu, nhất là biến chứng vi mạch. Tình trạng tăng đông máu phải chăng đã góp phần làm tăng nguy cơ tắc mạch hay gặp ở bệnh nhân đaí tháo đường. Chúng tôi nghĩ rằng những nghiên cứu về sau nên đi sâu hơn về sự liên quan giữa tình trạng đông máu và bệnh vi mạch ở bệnh nhân đái tháo đường để đưa ra được kết luận chính xác. Qua đó có nên đặt vấn đề điều trị thuốc giảm đông nhằm phòng ngừa biến chứng vi mạch, tắc mạch cho bệnh nhân đái tháo đường không.

3.2.Nghiên cứu trong nhóm bệnh nhân đái tháo đường

            - Biểu hiện tăng đông máu (r + k £ 17) gặp 12 bệnh nhân, chiếm tỷ lệ : 46,15%.

            - Không gặp trường hợp nào có tình trạng  giảm đông (r + k > 31).

            - Không có trường hợp nào bất thường về nghiệm pháp rượu và nghiệm pháp Volkaula.

3.2.1.So sánh tình trạng tăng đông máu giữa nam và nữ

Giới

r + k £  17

r + k > 17

S

Nam

Nữ

3

9

7

7

10

16

S

12

14

26

            Sự khác nhau không có ý nghĩa thống kê với p > 0,05. Như vậy tình trạng tăng đông máu ở bệnh nhân đái tháo đường không liên quan đến giới tính. Nghiên cứu của chúng tôi cũng phù hợp với nghiên cứu của Nusuwan.A trên 60 bệnh nhân đái tháo đường.

3.2.2.So sánh tình trạng tăng đông máu giữa hai type đái tháo đường

Type

r + k £  17

r + k > 17

S

Type 1

Type 2

8

4

3

11

11

15

S

12

14

26

            Sự khác biệt về tình trạng tăng đông giữa hai type đái tháo đường là không có ý nghĩa thống kê vơí P > 0,05.

3.2.3.Liên quan tình trạng tăng đông và huyết áp bệnh nhân

Huyết áp

r + k £  17

r + k > 17

S

Cao

Không cao

1

11

6

8

7

19

S

12

14

26

            Sự khác nhau không có ý nghĩa thống kê với p > 0,05. Như vậy không có sự liên quan giữa cao huyết áp và tình trạng tăng đông ở bệnh nhân đái tháo đường. Kết quả của chúng tôi cũng phù hợp với nghiên cứu của Nusuwan.A.

3.2.4.Tương quan giữa thời gian đông máu và đường máu (Đồ thị trang sau)

            Qua đồ thị biểu thị sự tương quan giữa đường máu nhất thời và thời gian đông máu trên, chúng tôi nhận thấy không có sự tương quan giữa đường máu nhất thời của bệnh nhân và tình trạng đông máu (hệ số tương quan          r = 0,17). Như vậy không có sự tương quan giữa đường máu nhất thời của bệnh nhân và tình trạng đông máu. Nghiên cứu của chúng tôi phù hợp với Nusuwan.A. Như vậy đường máu nhất thời của bệnh nhân không có ý nghĩa với tình trạng đông máu, có lẽ quá trình cân bằng đường huyết lâu dài mới có sự liên quan này. Đánh gía cân bằng đường huyết lâu dài dựa vào định lượng HbAIC, chúng tôi chưa có điều kiện định lượng yếu tố này.

3.2.5.Tương quan giữa thời gian đông máu và thời gian mắc bệnh

            Qua đồ thị trên, chúng tôi nhận thấy có sự liên quan nghịch giữa thời gian mắc bệnh và thời gian đông máu. Thời gian đông máu càng ngắn thì thời gian mắc bệnh càng dài. Sự liên quan này có ý nghĩa thống kê với hệ số tương quan r = - 0,57. Như vậy bệnh nhân bị bệnh đái tháo đường càng lâu thì càng có nguy cơ tăng đông máu. Nghiên cứu này của chúng tôi khác với nghiên cứu của Nusuwan.A. Sự khác nhau này có thể do bệnh nhân đái tháo đường của chúng tôi chưa được quản lý tốt, nhiều bệnh nhân tự động bỏ thuốc, điều trị không đúng qui cách, không đi khám định kỳ, và như vậy bệnh nhân luôn luôn ở trong tình trạng cân bằng đường huyết tồi.

 4.Kết luận

            Qua nghiên cứu 26 bệnh nhân đái tháo đường về tình trạng đông máu chúng tôi rút ra một số kết luận như  sau:

4.1.Có tình trạng tăng đông máu rõ rệt ở bệnh nhân đái tháo đường so với nhóm chứng (r + k ở nhóm bệnh ngắn hơn một cách có ý nghĩa thống kê với   p < 0,05)

4.2.Chúng tôi không gặp bệnh nhân đái tháo đường nào có biểu hiện giảm đông máu, đông máu nội mạch rải rác (CIVD ), hay tan sợi huyết cấp.

4.3.Tỷ lệ tăng đông máu ở bệnh nhân đái tháo đường là 46,5%

4.4.Không có sự liên quan giữa tình trạng đông máu với giới, type đái tháo đường, huyết áp và đường máu nhất thời (p > 0,05).

4.5.Có sự tương quan nghịch rõ rệt giữa thời gian bị bệnh đái tháo đường và tình trạng đông máu với hệ tương quan r = - 0,07 và p > 0,05.

Tài liệu tham khảo

  1. Chantal. L, Michel S Diabete et hemostase. Traité de diabétologie 1990: 220 - 230.
  2. Ceriello.A.: Coagulation activation in diabetes mellitus: The role of hyperglycaemia and therapeutie prospects. Diabetologia. 1993 Nov;        36 (11): 1119 - 25.
  3. Hughes.A, Maverry B. Wilhinson L: Diabetes, a hypercuagulable state? Hemostatic vauables in newly diagnosed type 2 diabetic patients. Acta- Haematol 1983, 69 (4): 254 - 9.
  4. Lupu.C, Calb M, Ionesu M: Enhanced prothrombin and intrinsic factor x activation on blood platelets from diabetic patients. Thromb - Haemost. 1993 Oct 18,70 (4): 579 - 83.
  5. Nusuwan.A, Fatma D: Hypucorgulation in diabetic mellitus. Bluding disordurs and transfusion medicine 1993 vol 24 suppl 1: 263 - 266.
  6. ostermen: Factors of the hemostatic system in diabetic patients. A survey of controlled studies. Haemostasis 1986; 16(6): 386 – 416.
  7. Shen.Z, Wang.H: Clinical research of  hypercoagulation in patient With diabetes mellitics, glomerular, diseases and piegnancy induced hypertention.
© 2012 - 2020, Viện Đái Tháo Đường Và Rối Loạn Chuyển Hóa. All rights reversed.