Thứ bảy, ngày 04/07/2020

Bước đầu tìm hiểu sự liên quan giữa bệnh lý mất Basedow và một số biểu hiện lâm sàng và cận lâm sàng khác của bệnh Basedow


18.06.2012   167 lượt xem

1. Mục đích nghiên cứu

            Basedow là một bệnh nội tiết thường gặp. Theo thống kê tại khoa nội tiết bệnh viện Bạch mai bệnh Basedow chiếm 45,8% các bệnh nội tiết.

Bệnh Basedoww được mô tả trên lâm sàng với 3 đặc điểm chính: Các biểu hiện nhiễm độc giáp với bướu lan toả, bệnh lý về mắt và bệnh lý về da.
Tỷ lệ biểu hiện lâm sàng bệnh lý ở mắt Basedoww chiếm 50 – 60% các bệnh nhân Basedow.(3.5)

            Cho đến nay, bệnh lý mắt Basedow vẫn còn là vấn đề phức tạp về cơ chế bệnh sinh, về tiến triển và những khó khăn trong điều trị. Chúng tôi tiến hành nghiên cứu này nhằm mục đích:

            - Tìm hiểu sự liên quan giữa bệnh lý mắt Basedow và một số biểu hiện lâm sàng và cận lâm sàng khác của bệnh Basedow.

2. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu.

2.1. Đối tượng:

            Các bệnh nhân đến khám và điều trị tại khoa nội tiết bệnh viện Bạch mai từ tháng 11 – 1992 đến tháng 4 – 1993 được chẩn đoán xác định là Basedow.

            Các bệnh nhân Basedow có kèm theo các bệnh khác có thể ảnh hưởng tới triệu chứng ở mắt chúng tôi không xếp vào diện nghiên cứu.

2.2. Phương pháp

2.2.1. Tất cả bệnh nhân đều chưa được điều trị về nhiễm độc giáp và biểu hiện ở mắt.

2.2.2. Chúng tôi hỏi và khám theo một nội dung thống nhất:

            - Chẩn đoán nhiễm độc giáp Basedow chúng tôi dựa vào thăm khám lâm sàng và cận lâm sàng, nhất là định lượng hormone T3, T4, TSH. Tiêu chuẩn chẩn đoán xác định Basedow, chúng tôi tham khảo luận án phó tiến sĩ của Trần Đình Ngạn (2)

                        * Mức độ nhiễm độc giáp được coi là nặng khi có cơn cường giáp cấp hoặc suy tim, loạn nhịp tim, hoặc khi nhịp tim nhanh >130lần/phút kết hợp với gầy sút nhiều, run tay nhiều và có thể kèm các triệu chứng khác nữa.

                        * Những bệnh nhân có suy tim trên lâm sàng hay nghi ngờ suy tim, hoặc có loạn nhịp tim đều được làm điện tâm đồ, Xquang tim phổi và siêu âm tim để chẩn đoán xác định bệnh tim do Basedow.

            - Khám mắt: các triệu chứng cơ năng và thực thể được phát hiện thông qua sự thăm khám kết hợp với một bác sĩ chuyên khoa mắt tại viện Mắt trung ương. Sau khi có kết quả khám mắt, chúng tôi phân loại biểu hiện mắt theo phân loại NO SPECS của hiệp hội tuyến giáp học Mỹ năm 1997 (7,8)

            - Xử lý số liệu thống kê: Các số liệu thống kê được xử lý trên máy Olivetti – M290 của trung tâm maý tính Đại học Y Hà nội. Thuật toán x2 được dùng để kiểm định tính độc lập của hai đặc tính. Sự khác nhau được coi là có ý nghĩa thống kê với p < 0,05.

3. Kết quả và bàn luận

            Từ tháng 11 năm 1992 đến tháng 4 năm 1993, chúng tôi đẫ tiến hành nghiên cứu trên 58 bệnh nhân Basedow, sau đây là kết quả thu được

3.1. Tình hình chung

3.1.1. Trong số 58 bệnh nhân Basedow

            Nữ: 49 bệnh nhân chiếm 84%

            Nam: 9 bệnh nhân chiếm 16%

            Tuổi trung bình : 36,1 ± 11,2 (từ 15 – 60 tuổi). Có 38 bệnh nhân dưới 40 tuổi chiếm 65,5%.

3.1.2. Có 34 bệnh nhân có bệnh lý mắt Basedow: chiếm tỷ lệ 58,6% các bệnh nhân Basedow. 10 bệnh nhân có bệnh lý mắt Basedow nặng chiếm tỷ lệ 17,2%.

            Trong số 34 bệnh nhân:

                        Nữ: 27 bệnh nhân chiếm 79,4%

                  Nam: 7 bệnh nhân chiếm 20,6%

            Tuổi trung bình: 34,9 ± 10,8 (từ 15 – 57 tuổi)

            So sánh với các tác giả nước ngoài:

                                       Tác giả

Tuổi

Wiersinga

Marccoci

Chúng tôi

Tuổi trung bình của bệnh nhân Basedow

Tuổi trung bình bệnh nhân có bệnh lý mắt Basedow

47,8

44,5

50

50

36,7

34,9

            Như vậy tuổi bệnh nhân Basedow xấp xỉ tuổi bệnh nhân có bệnh lý mắt Basedow. Và tuổi trung bình ở các bệnh nhân nghiên cứu của chúng tôi thấp hơn tuổi trung bình của các tác giả nước ngoài

3.2. Tìm hiểu mối liên quan giữa bệnh lý mắt Basedow với tuổi và giới:

Biểu đồ 1: So sánh bệnh lý mắt Basedow ở các nhóm tuổi

Với độ tin cậy 95% (p > 0,05) chúng tôi thấy sự khác nhau về bệnh lý mắt Basedow ở các nhóm tuổi là không có ý nghĩa thống kê

So sánh bệnh lý mắt Basedow giữa nam và nữ

Bệnh mắt

Giới

Không có bệnh lý ở mắt

Có bệnh lý ở mắt

S

Nữ

Nam

S

22

2

24

27

7

34

49

9

58

         Theo tính toán, sự khác nhau về bệnh lý mắt Basedow giữa nam và nữ là không có ý nghĩa thống kê (p > 0,05) trong nghiên cứu của chúng tôi. Nhưng do số liệu bệnh nhân còn ít, nên chúng tôi cần nghiên cứu thêm để có thể đưa ra được kết luận chắc chắn hơn.

            Qua biểu đồ và bảng trên chúng tôi thấy bệnh lý mắt Basedow không có liên quan đến lứa tuổi và giơí tính . Kết quả của chúng tôi cũng phù hợp với một số tác giả nước ngoài khác.(3.10)

            Điều này đáng lưu ý vì:

                  - Tuổi bệnh nhân Basedow của chúng ta còn trẻ (65,5% dưới 40 tuổi)

                        - Phụ nữ chiếm đa số 84%

            Do vậy yếu tố thẩm mỹ luôn tác động đến tâm lý người bệnh. Nếu việc nghiên cứu điều trị bệnh lý mắt Basedow có hiệu quả cũng là điều đáng quan tâm cho các nghiên cứu về sau

3.3. Tìm hiểu sự liên quan giữa biểu hiện bệnh lý mắt Basedow và một số biểu hiện bệnh lý khác của bệnh Basedow

3.3.1. Có 26 bệnh nhân Basedow được làm xét nghiêm T3, T4 trong máu và bệnh lý mắt Basedow, chúng tôi dùng thuật toán X2. Kết quả được trình bày ở bảng sau

Bệnh mắt

Nồng độ T3,T4

Không có bệnh lý mắt

Có bệnh lý ở mắt

S

Tăng cao nhiều

6

8

14

Tăng cao vừa

5

7

12

S

11

15

26

         Kết quả cho thấy không có mối liên quan giữa bệnh lý mắt Basedow với các nồng độ T3,T(p >0,05). Điều này cũng phù hợp với nghiên cứu của các tác giả nước ngoài

3.3.2. Liên quan giữa mức độ nhiễm độc giáp Basedow và bệnh l ý mắt Basedow

         Sự khác nhau giữa bệnh lý mắt Basedow ở các mức độ nhiễm độc giáp Basedow là không có ý nghĩa thống kê với p > 0.05. Kết quả này của chúng tôi phù hợp với các tác giả khác. (3.5)

3.3.3. Liên quan giữa mức độ biểu hiện bệnh lý mắt Basedow và mức độ to của bướu giáp

                Bệnh mắt

Độ của bướu giáp

Không có bệnh lý mắt

Bệnh lý mắt nhẹ

Bệnh lý mắt nặng

S

Ib

0

0

3

3

II

22

19

7

48

III

2

5

0

7

S

24

24

10

58

         10 bệnh nhân có bệnh lý mắt Basedow nặng có bướu giáp nhỏ (độ Ib)và trung bình (độ II), không có ai có bướu giáp to (độ III).

         Số bệnh nhân không só bệnh lý mắt Basedow và có bệnh lý mắt Basedow nhẹ đều có bướu giáp độ II và III, không có bệnh nhân nào có bướu giáp độ Ib. Do số liệu còn ít nên chúng tôi chưa xác định được có mối liên quan giữa mức độ to của bướu giáp và mức độ biểu hiện của bệnh lý mắt Basedow hay không

3.3.4. Trong số 58 bệnh nhân Basedow của chúng tôi, không có bệnh nhân nào có phù niêm trước xương chày kể cả những bệnh nhân có bệnh lý mắt Basedow nặng. Cũng không có bệnh nhân nào có cơn nhiễm độc giáp cấp.

3.3.5. Thời gian biểu hiện bệnh lý mắt Basedow

            - 34 bệnh nhân có bệnh lý mắt Basedow, thời gian đến khám với chúng tôi sớm nhất là 2 tháng, muộn nhất là 1 năm.

            - Có 4 bệnh nhân biểu hiện bệnh lý mắt trước các biểu hiện lâm sàng khác của bệnh Basedow, cả 4 bệnh nhân này đều đến khám ở Viện mắt trung ương trước với các lý do khác nhau:

                        + Một bệnh nhân đến khám vì hay chảy nước mắt, phù nề mi mắt, tại viện Mắt chẩn đoán: tắc lệ đạo, hai tháng sau, bệnh nhân mới xuát hiện các triệu chứng khác của bệnh Basedow

                        + Một bệnh nhân đế khám do lồi mắt hai bên gần một năm, ngoài ra không còn triệu chứng gì khác của bệnh Basedow

                        + Một bệnh nhân đến khám do nhức hai hố mắt, phù nề mi, viêm kết mạc, hai tháng sau bệnh nhân mới xuất hiện gầy sút và bướu cổ to ra.

                  + Một bệnh nhân đến khám với lồi mắt hai bên hạn chế vận nhãn nhìn lên trên

            ở các bệnh nhân này thời gian được chẩn đoán Basedow sau biểu hiện ở mắt sớm nhất là 3 tháng, muộn nhất là1 năm. Triệu chứng mắt xuất hiện đầu tiên gặp ở cả nam và nữ, đều dưới 40 tuổi, hầu hết là biểu hiện bệnh lý mắt nặng(3/4 bệnh nhân)

 4. Kết luận

4.1. Bệnh lý mắt Basedow trước điều trị chiếm 58,6%. Bệnh lý mắt nặng chiếm 17,2%

4.2. Bệnh lý mắt basedow không liên quan với lứa tuổi

4.3. Bệnhh lý mắt Basedow có thể đến trước biểu hiện cường giáp Basedow hoặc đến cùng cường giáp, và bệnh lý mắt Basedow không liên quan đến mức độ nhiễm độc giáp Basedow, với hàm lượng T3,T4 và với phù niêm trước xương chày 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1.     Lê Huy Liệu. Tình hình bệnh tăng năng giáp tại bệnh viện Bạch mai. Nội khoa 1991 – 4: 10 – 15
2.     Trần Đình Ngạn. Nghiên cứu góp phần vào chẩn đoán và điều trị bệnh bướu giáp lan toả nhiễm độc. Luận án phó tiến sĩ y học chuyên ngành nội khoa. Mã hiệu 3 – 03 – 31. Học viện Quân y Hà nội
3.     D.Giraud. Oeil et Thyroide. EMC ophhthalmology 1991 – 21453A20 :8p
4.     Gorman C.A. Temporal relationship between onset of Graves’ ophthalmopathy and diagnosis of thyrotoxicosis. Mayo Clin Proe 1983 ; 58 ; 8 : 515 – 519
5.     J.Leclère et J.L George. L’exophthalmie basedowienne. La revue du Prat 1987 ; 37 ; 40 : 247 - 2415
6.     Marcocci C, Bartalena L and al. Studies on the occurrence of ophthalmopathy in Graves’ disease. Acta endocrinol 1989, 120, 4 : 473 – 478
7.     Werner S.C. Classification of the eye changes of Graves’ disease. J.Clin endocrinol Metab 1969,29 : 982 – 984
8.     Werner S.C. Modification of the classification of the eye changes of Graves’ disease of thyriodal Graves’ disease. J.endocrinol Invers 1988, 11,8 : 615 –619
9.     Weirsnga W.M.Smitt T. Clincal presentation of Graves’ ophthalmopathy. Ophtanmic Res 1989, 21 :  73 - 82

 

Vũ Bích Nga, Lê Huy Liệu

Bệnh viện Bạch mai

© 2012 - 2020, Viện Đái Tháo Đường Và Rối Loạn Chuyển Hóa. All rights reversed.