Thứ bảy, ngày 04/07/2020

Đánh giá hội chứng chuyển hóa, kháng insulin và chức năng tế bào Bêta ở người tiền đai tháo đường tại Ninh Bình


19.05.2012   235 lượt xem

Tạ Văn Bình, Đỗ Đình Tùng, Vũ Bích Nga, Nguyễn Thành Lâm và cs Viện Đái tháo đường và Rối loạn chuyển hóa, Số 1, Tôn Thất Tùng, Quận Đống Đa, Hà Nội, Việt Nam

Tóm tắt: Hội chứng chuyển hóa, kháng insulin và suy giảm chức năng tế bào bêta là những khiếm khuyết đầu tiên thường thấy trong bệnh đái tháo đường týp 2, ngay cả ở giai đoạn tiền đái tháo đường. Nghiên cứu 1068 người tiền đái tháo đường tuổi từ 30 đến 69 (tuổi trung bình 56,30±8,30) tại Ninh Bình cho thấy: ở người tiền đái tháo đường, tỷ lệ mắc hội chứng chuyển hóa chung là 55,3%, đối với nam là 31,7% , đối với nữ là 68,3% (tính theo thiêu chuẩn của NCEP ATP III); Nếu dựa vào tiêu chuẩn của IDF, tỷ lệ mắc hội chứng chuyển hóa chung là 32,2%, đối với nam là 22,1%, đối với nữ là 79,0%. Chỉ số kháng insulin (HOMA2-IR) và chức năng tế bào bêta (HOMA2-%B) lần lượt là 0,79±0,73 và 52,9±28,5. Chức năng tế bào bêta ở nhóm suy giảm dung nạp glucose thấp hơn có ý nghĩa thống kê so với nhóm suy giảm dung nạp đường huyết lúc đói đơn thuần. Có sự tương quan thuận giữ sự suy giảm chức năng tế bào bêta với kháng insulin (r=0,852, p<0,001).

Abstract: Metabolic syndrome, insulin resistance, and impaired beta-cell function, the primary defects observed in type 2 diabetes, both can be detected in subjects with IGT and/or IFG. The data from 1068 pre-diabetes (aged 56.30±8.30) were analyzed and the results showed that: based on the NCEP ATP III definition, the prevalence of the metabolic syndrome was 55.3% among all pre-diabtes, 31.7% among men, and 68.3% among women; based on the IDF definition, the prevalence of the metabolic syndrome was 32.2% among all pre-diabetes, 22.1% among men, and 79.0% among women. In the pre-diabetes, HOMA2-%B and HOMA2-IR was, respectively, 52.9 ± 28.5; 0.79 ± 0.73. Beta-cell function showed significantly difference between subjects of isolated IFG and subjects of IGT. HOMA2-%B showed significant positive correlation with HOMA2-IR (r=0.852, p<0.001).

1.ĐẶT VẤN ĐỀ

      Tiền đái tháo đường có hai hình thái là rối loạn dung nạp glucose (IGT) và suy giảm dung nạp glucose lúc đói, được coi là trạng thái trung gian chuyển tiếp từ dung nạp glucose bình thường đến đái tháo đường. Các nghiên cứu dịch tễ học logic đã chứng minh rằng ở thời kì này đã có sự suy giảm chức năng tế bào bêta và kháng insulin. Tuy nhiên, sự suy giảm chức năng tế bào bêta và kháng insulin có sự khác nhau ở nhóm đối tượng có IGT và nhóm có IFG. Phân biệt được sự khác nhau về chuyển hóa ở hai nhóm đối tượng này có thể đòi hỏi các biện pháp can thiệp dự phòng khác nhau nhằm ngăn chặn tiến triển thành bệnh đái tháo đường týp 2. Kháng insulin thường liên quan đến hội chứng chuyển hóa và liên quan đến cơ chế bệnh sinh của đái tháo đường týp 2. Những người tiền đái tháo đường có tỷ lệ rất cao mắc hội chứng chuyển hóa (HCCH). Ngược lại nếu mắc hội chứng chuyển hóa thì có sự bất thường trong chuyển hóa glucose và nguy cơ cao dẫn đến mắc bệnh đái tháo đường. Nghiên cứu can thiệp phòng chống đái tháo đường cần phải tính đến hội chứng chuyển hóa. Nhằm làm sáng tỏ hơn mối liên quan giữa hội chứng chuyển hóa, kháng insulin và suy giảm chức năng tế bào bêta chúng tôi thực hiện đề tài với mục tiêu:

- Xác định tỉ lệ mắc hội chứng chuyển hóa, chỉ số kháng insulin và chỉ số chức năng tế bào bêta ở người tiền đái tháo đường tại Ninh Bình.

- Phân tích các mối liên quan giữa hội chứng chuyển hóa, kháng insulin và sự suy giảm chức năng tế bào bêta ở người tiền đái tháo đường.

2.     ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP

2.1.  Đối tượng: Nghiên cứu được tiến hành trên 1068 người tiền đái tháo đường tuổi từ 30 đến 69 tại Ninh Bình. Các đối tượng được lựa chọn ngẫu nhiên từ những người tiền đái tháo đường mới được phát hiện bằng nghiệm pháp dung nạp đường huyết đường uống. Loại trừ các đối tượng đang mắc các bệnh cấp tính hoặc có sử dụng các thuốc ảnh hưởng đến chức năng tế bào bêta và độ nhạy insulin.

 2.2.  Phương pháp

-          Nghiên cứu sử dụng phương pháp dịch tễ học mô tả cắt ngang kết hợp với phân tích.

-          Các đối tượng nghiên cứu được thu thập các số liệu về nhân khẩu học, nhân trắc học, các chỉ số về thể lực và huyết áp. Tất cả các đối tượng được làm nghiệm pháp dung nạp glucose đường uống (OGTT) với 75 gram đường loại anhydrite. Sử dụng máy SURE STEP của hãng JOHNSON& JOHNSON để xét nghiệm đường máu mao mạch lúc đói (sau nhịn ăn ít nhất 8 giờ) và đường máu sau 2 giờ (OGTT). Lấy máu tĩnh mạch lúc đói (sau nhịn ăn ít nhất 8 giờ) để xét nghiệm các chỉ số lipid máu và insulin.

-          Các tiêu chuẩn đánh giá sử dụng trong nghiêu cứu:

  • Chẩn đoán tiền đái tháo đường theo WHO-IDF năm 2010.

  • Tiêu chuẩn đánh giá hội chứng chuyển hóa: sử dụng tiêu chuẩn chẩn đoán HCCH của liên đoàn Đái tháo đường quốc tế (IDF-2005) và tiêu chuẩn của NCEP ATP IIII.

  • Tính chỉ số HOMA1 theo công thức của Mathews.

  • Tính các chỉ số chức năng tế bào bêta, chỉ số kháng insulin bằng phần mềm HOMA2 phiên bản 2.2.2 chạy trên giao diện excel, sử dụng cặp nồng độ glucose và insulin lúc đói.

  • Đánh giá chỉ số khối cơ thể BMI, vòng eo dựa theo tiêu chuẩn của WHO 2000 áp dụng cho người trưởng thành Châu Á. Tính chỉ số BMI: BMI (kg/m2) = Cân nặng [kg]/[chiều cao(m)]2.

  • Quản lý và xứ lí số liệu bằng phần mềm Epidata và phần mềm SPSS 15.0.

3.     KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN

3.1.  Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu

      Nghiên cứu được tiến hành trên 1068 người tiền đái tháo đường, tuổi từ 30 đến 69, tuổi trung bình 56,03±8,30. Các đối tượng được chia làm 2 nhóm, nhóm Suy giảm dung nạp glucose lúc đói (IFG) và nhóm rối loạn dung nạp glucose (IGT). Kết quả Bảng 1 cho thấy: trung bình BMI, HA tâm thu, HA tâm trương lần lượt là 23,32±2,92; 144,48±22,57; 82,43±13,65 tăng so với người bình thường. Huyết áp tâm trương và Huyết áp tâm thu của nhóm IGT có xu hướng tăng hơn so với nhóm IFG, tuy nhiên sự khác biệt chưa có ý nghĩa thống kê (bảng 1).

Bảng 1: Đặc điểm của đối tượng nghiên cứu phân theo hình thái rối loạn glucose

Đặc điểm

IFG/IGT (3)

IFG (1)

IGT (2)

Tỉ lệ đối tượng (%)

1068(100,0)

368(34,5)

700(65,5)**

Tuổi trung bình (năm)

56,03±8,30*

56,47±8,36

56,15±8,22

BMI (kg/m2)

23,32±2,92

23,50±3,06

23,22±2,83

Vòng hông (cm)

89,82±8,09

89,92±8,68

89,71±7,80

Vòng eo (cm)

80,48±9,35

80,89±9,28

80,26±9,39

Huyết áp TT (mmHg)

144,48±22,57

143,86±21,93

144,94±22,96

Huyết áp TTr (mmHg)

82,43±13,65

81,81±13,53

82,82±13,73

Glucose lúc đói (mmol/l)

6,05±0,79

6,41±0,85**

5,85±0,64 **

Glucose sau 2 giờ (mmol/l)

8,82±2,31

8,93±3,75

8,76±0,86

Insulin lúc đói (pmol/l)

39,68±1,33

41,85±3,04

38,73±1,30

Cholesterol toàn phần (mmol/l)

5,84±1,20

5,74±1,21

5,89±1,19

Triglycerid (mmol/l)

2,18±1,61

2,17±1,63

2,17±1,59

HDL-Cholesterol (mmol/l)

1,279±,027

1,29±0,30

1,28±0,28

LDL-Cholesterol (mmol/l)

3,57±1,107

3,46±1,09*

3,63±1,11*

          *p<0,05; **p<0,001; IFG: Rối loạn dung nạp glucose máu lúc đói; IGT: Rối loạn dung nạp glucose

3.2.  Tỉ lệ hội chứng chuyển hóa, chỉ số kháng insulin và chỉ số chức năng tế bào bêta

      Ở người tiền đái tháo đường, tỷ lệ mắc hội chứng chuyển hóa chung là 55,1%, đối với nam là 31,6% , đối với nữ là 68,4% (tính theo theo chuẩn của NCEP ATP III); Nếu dựa vào tiêu chuẩn của IDF, tỷ lệ mắc hội chứng chuyển hóa chung là 32,2%, đối với nam là 22,1%, đối với nữ là 68,4%. Tỉ lệ mắc Hội chứng chuyển hóa theo cả tiêu chuẩn của IDF và NCEP ATP III của nhóm IGT cao hơn có ý nghĩa thống kê so với nhóm IFG (p<0,001). Chức năng tế bào bêta của nhóm IGT giảm có ý nghĩa thống kê so với nhóm IFG (p<0,001) (bảng 2).

Bảng 2: Tỉ lệ Hội chứng chuyển hóa và các chỉ số HOMA của đối tượng nghiên cứu

Đặc điểm

IFG/IGT

IFG (1)

IGT (2)

Giá trị p

Tỉ lệ HCCH theo IDF (%)

Chung

316(32,2)

101(28,2)

215(31,9)

p>0,05

Nam

66(22,1)

25(24,8)

41(19,2)

pc < 0,001

Nữ

248(79,0)

76(75,2)

172(80,8)

Tỉ lệ chung HCCH theo NCEP ATP III (%)

Chung

591(55,3)

192(52,2)

399(57,0)

p> 0,05

Nam

184(31,7)

74(38,7)

110(28,2)

p2 < 0,01

pc < 0,001

p1 < 0,01

Nữ

397(68,3)

117(61,3)

280(71,8)

HOMA1-IR

 

10,98±0,405

10,39±0,94

10,39±0,38

p > 0,05

HOMA2-IR

 

0,77±0,72

0,81±0,94

0,75±0,58

p > 0,05

HOMA2-%B

 

51,81±0,99

54,47±1,18

47,24±1,78

p=0,001

       HCCH: Hội chứng chuyển hóa; HOMA1-IR: chỉ số kháng insulin theo HOMA1; HOMA2-IR: Chỉ số kháng insulin theo HOMA2; HOMA2-%B: chức năng tế bào bêta theo HOMA2.

3.3.  Mối liên quan giữa hội chứng chuyển hóa, kháng insulin và sự suy giảm chức năng tế bào bêta

      Chỉ số kháng insulin và chỉ số chức năng tế bào bêta của nhóm tiền đái tháo đường có hội chứng chuyển hóa cao hơn nhóm không có HCCH (bảng 3). Kết quả này phù hợp với nghiên cứu của Abu Kholdun Al-Mahmood [3].

Bảng 3: Mối liên quan giữa kháng insulin, suy giảm chức năng tế bào bêta với HCCH (theo IDF và NCEP ATP IIII)

                 

 

HCCH

theo

Có HCCH (1)

Không HCCH (2)

p

Nam

Nữ

Chung

Nam

Nữ

Chung

HOMA2-IR

 

IDF

0,86±0,07

0,86±0,06

0,87±0,05

0,75±0,06

0,7±0,03

0,73±0,03

pc=0,001

HOMA2-%B

56,03±2,99

57,10±2,15

56,95±1,8

48,15±2,12

50,51±1,43

49,43±1,21

pc=0,011

HOMA2-IR

NCEP ATP III

0,76±0,04

0,82±0,04

0,8±0,03

0,78±0,1

0,67±0,04

0,72±0,05

pc=0,015

HOMA2-%B

50,1±1,86

55,51±1,55

53,7±1,2

48,73±3,33

48,81±1,72

48,75±1,7

pc=0,125

Hình 1: Biểu đồ mối tương quan giữa kháng insulin và sự suy giảm chức năng tế bào bêta

Suy giảm chức năng tế bào bêta

Kết quả nghiên cứu được biểu diễn ở hình 1 cho thấy có sự tương quan thuận, chặt chẽ, có ý nghĩa thống kê giữa sự suy giảm chức năng tế bào bêta với kháng insulin ở người tiền đái tháo đường (r=0,852, p<0,001), theo phương trình tương quan y = 0,021x – 0,337. Kết quả này phù hợp với nghiên cứu của Abu Kholdun Al-Mahmood và cs, Perreault L [4], [11].

4.     KẾT LUẬN

        Nghiên cứu hội chứng chuyển hóa, kháng insulin và sự suy giảm chức năng tế bào bêta ở 1068 người tiền đái tháo đường tại Ninh Bình cho thấy:

      - Tỉ lệ mắc HCCH khác nhau tùy theo tiêu chuẩn đánh giá, tỷ lệ chung là 55,1% theo chuẩn của NCEP ATP III; là 32,2% theo IDF.

      - Tỉ lệ mắc Hội chứng chuyển hóa cao hơn, chức năng tế bào bêta giảm có ý nghĩa thống kê giữa nhóm IGT so với nhóm IFG (p<0,001).

      - Chỉ số kháng insulin và chỉ số chức năng tế bào bêta của nhóm tiền đái tháo đường có hội chứng chuyển hóa cao hơn nhóm không có HCCH.

      - Sự suy giảm chức năng tế bào bêta tương quan tỉ lệ thuận, có ý nghĩa thống kê với kháng insulin.

LỜI CẢM ƠN

      Chúng tôi chân thành cảm ơn chính quyền, ngành y tế và nhân dân tỉnh Ninh Bình đã giúp đỡ chúng tôi hoàn thành nghiên cứu này.

TÀI LIỆU THAM KHẢO
  1. Tạ Văn Bình (2006), Bệnh đái tháo đường - Tăng glucose máu, Nhà xuất bản Y học.
  2. Đỗ Đình Tùng, Tạ Văn Bình (2009), Nghiên cứu chức năng tế bào bêta, độ nhạy insulin qua Update Computer Homeostatic Model Assessment (HOMA2) ở người bình thường, Tạp chí Thông tin Y Dược, số 1-2009, Tr.24-27.
  3. Abu Kholdun Al-Mahmood, Aziz Al-Safi Ismail, Faridah Abdul Rashid, Wan Mohamad Wan Bebakar (2006), Insulin sensitivity and secretory status of a healthy Malay population, Malaysian Journal of Medical Sciences, Vol.13, (suppl.2), p. 37-44.
  4. Abdul-Ghani MA, Tripathy D, DeFronzo RA (2006): Contribution of beta-cell dysfunction and insulin resistance to the pathogenesis of impaired glucose tolerance and impaired fasting glucose. Diabetes Care 2006, 29:1130-1139.
  5. Caumo A, Bergman RN, Cobelli C (2000): Insulin sensitivity from meal tolerance tests in normal subjects: A minimal model index. J Clin Endocrinol Metab 2000, 85:4396-4402.
  6. Festa A, Williams K, Hanley AJG, Haffner SM (2008): β-cell dysfunction in subjects with impaired glucose tolerance and early type 2 diabetes. Comparison of surrogate markers of first-phase insulin secretion from an intravenous glucose tolerance test. Diabetes 2008, 57:1638-1644.
  7. Hermans M.P., Levy J.C., Morris R.J., Turner R.C. (1999), Comparison of insulin sensitivity tests across a range of glucose tolerance from normal to diabetes, Diabetologia, Vol.42, p.678–687.
  8. Nagasaka S., Santo N., Takahashi N., Kusaka I., Ishibashi S. (2007), New insight on the simultaneuos assessment of insulin sensitivity and β cell function with the HOMA2 method, response to Caumo et al. (Letter), Diabetes Care, Vol.30 (No.5), p.e42.
  9. Monzillo LU, Hamdy O (2003): Evaluation of insulin sensitivity in clinical practice and in research settings.   Nutr Rev 2003, 61:397-412.
  10. Muniyappa R, Lee S, Chen H, Quon MJ (2008): Current approaches for assessing insulin sensitivity and resistance in vivo: advan-tages, limitations, and appropriate usage.  Am J Physiol Endocrinol Metab 2008, 294:E15-E26.
  11. Perreault L, Bergman BC, Playdon MC, Dalla Man C, Cobelli C, Eckel RH (2008): Impaired fasting glucose with or without impaired glucose tolerance: progressive or parallel states of prediabetes? Am J Physiol Endocrinol Metab 2008, 295:E428-E435.
  12. Retnakaran R, Shen S, Hanley AJ, Vuksan V, Hamilton JK, Zinman B (2008): Hyperbolic relationship between insulin secretion and sensi-tivity on oral glucose tolerance test.   Obesity 2008, 16:1901-1907.
  13. Wallace TM, Levy JC, Mathews DR (2004):  Use and abuse of HOMA modeling.  Diabetes Care 2004, 27:1487-1495.
© 2012 - 2020, Viện Đái Tháo Đường Và Rối Loạn Chuyển Hóa. All rights reversed.